|
|
1. Sự phát quang
Chiếu một chùm tia tử ngoại có bước sóng vào một bình dung dịch fluôexêin trong rượu. Dung dịch này sẽ phát ra ánh sáng màu xanh lục nhạt có bước sóng . Đó là hiện tượng huỳnh quang.
Đối với các chất khí cũng có hiện tượng tương tự. ánh sáng huỳnh quang hầu như tắt ngay sau khi tắt ánh sáng kích thích.
Cơ chế của hiện tượng huỳnh quang như sau: mỗi phân tử fluôrexêin khi hấp thụ một phôtôn tử ngoại có năng lượng thì kích thích trong thời gian rất ngắn. Phân tử này ở trạng thái kích thích trong thời gian rất ngắn. Trong thời gian này, nó va chạm với các phân tử khác và mất bớt một phần năng lượng. Cuối cùng, khi trở về trạng thái bình thường, nó sẽ phát ra một phôtôn khác có năng lượng nhỏ hơn

Dùng ánh sáng tử ngoại chiếu vào các tinh thể kẽm sunfua ZnS có pha một lượng rất nhỏ đồng (Cu) và côban (Co) thì kẽn sunfua sẽ phát ra ánh sáng màu xanh lục. Sự phát sáng của các tinh thể khi bị kích thích bằng ánh sáng thích hợp gọi là sự lân quang. Ánh sáng lân quang có thể tồn tại rất lâu sau khi tắt ánh sáng kích thích.
Sự huỳnh quang của chất khí và chất lỏng và sự lân quang của các chất rắn gọi chung là sự phát quang. Người ta thường gọi sự phát quang là sự phát sáng lạnh để phân biệt với sự phát sáng của vật khi bị nung nóng. Cơ chế của sự lân quang cũng khác cơ chế của sự huỳnh quang.
Ngoài việc dùng tia tử ngoại, người ta còn dùng các tia có bước sóng ngắn hơn để kích thích sự phát quang. Chẳng hạn, người ta có thể dùng tia Rơnghen (trong việc chiếu điện), tia…….và chùm êlectrôn (trong các bóng hình của máy thu vô tuyến) v.v…. để kích thích sự phát quang của màn ảnh.
Hiện tượng phát quang của các chất rắn được ứng dụng trong các đèn huỳnh quang. Đèn gồm một ống thuỷ tinh hình trụ, trong chứa hơi thuỷ ngân ở áp suất thấp. ở hai đầu ống có hai điện cực, có dạng các dây tóc được nung đỏ. Thành trong của ống có phủ một lớp bột sáng quang. Khi có dòng điện phóng qua thì hơi thuỷ ngân sẽ phát sáng. ánh sáng do hơi thuỷ ngân phát ra rất giầu tia tử ngoại. Các tia tử ngoại này sẽ kích thích lớp bột phát quang phủ ở thành trong của đèn phát ra ánh sáng nhìn thấy được. Các đèn huỳnh quang sáng hơn nhiều so với các đèn có dây tóc nóng sáng tiêu thụ cùng một công suất điện.
2. Các phản ứng quang hoá
Các phản ứng quang hoá là các phản ứng hoá học xẩy ra dưới tác dụng của ánh sáng.
Các phản ứng này có nhiều loại như phản ứng phân tích, phản ứng tổng hợp, phản ứng pôlime hoá v.v…
Thí dụ 1: Hiện tượng quang hợp. Hiện tượng quang hợp là phản ứng quang hoá rất quan trọng đối với sự tồn tại của các cây xanh, nên có ảnh hưởng to lớn đối với đời sống con người. Trong hiện tượng này, dưới tác dụng của các phôtôn tử ngoại, cây xanh hấp thụ và phân tích của không khí để tạo thành các chất hữu cơ như glucôza, xenlulo, tinh bột v.v…
Thí dụ 2: Phản ứng phân tích . Phản ứng này là cơ cở của kĩ thuật chụp ảnh. Dưới tác dụng của phôtôn ánh sáng kích thích, một số phân tử trong những hạt bạc bromua bị phân tích thành bạc và brôm:

Những phân tử đã bị ánh sáng phân tích trong quá trình chụp ảnh sẽ trở thành những mầm để từ đó toàn bộ hạt bạc bromua bị phân tích hoá học trong thuốc hiện hình.
Những hạt bạc bromua không chứa những phân tử đã bị phân li do tác dụng của ánh sáng thì không bị thuốc hiện hình tác dụng.
Thí dụ 3: Phản ứng tổng hợp . Chiếu ánh sáng có bước sóng ngắn vào một bình đựng hỗn hợp clo và hiđrô thì clo sẽ tổng hợp với hiđrô thành . Phản ứng này xảy ra theo hai quá trình kế tiếp nhau.
- Quá trình sơ cấp: 
- Các quá trình thứ cấp:


Một số bài tập
|
 |
Lượng tử ánh sáng |
 |
|
 | Một vài hiện tượng quang học liên quan đến tính chất lượng tử của ánh sáng |
|
|
 |
|
 |
|