BÀI LÀM
“Cảnh chiều hôm” là bài thơ số 114 trong “Nhật ký trong tù”. Thi đề trong bài thơ chữ Hán là “Văn cảnh” vào mùa xuân năm 1943. Lúc bấy giờ Bác đang bị giam tại nhà ngục Cục chính trị chiến khu IV tại Liễu Châu, Trung Quốc, với tâm trạng: “Năm canh thao thức không nằm-Thơ tù ta viết hơn trăm bài rồi – Xong bài, gác bút nghỉ ngơi – Nhòm qua cửa ngục, ngóng trời tự do” (Đêm không ngủ). Bài thơ số 118 này giúp ta cảm nhận được bài thơ “Cảnh chiều hôm” này. Đây là nguyên tác bài thơ”
“Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ,
Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình;
Hoa hương thấu nhập lung môn lý,
Hướng tại hung nhan tố bất bình”.
“Văn cảnh” nói lên cảm nhận, cảm xúc và những suy nghĩ của nhà thơ về sự nở, tàn của hoa, về cái đẹp và tự do trong cuộc sống.
Câu 1, 2 được Nam Trân dịch: “Hoa hồng nở, hoa hồng lại rụng – Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình”. Câu thứ hai trong bản chữ Hán nghĩa là: Hoa nở hoa tàn (cả hai sự đó, hiện tượng đó) đều diễn ra trong sự vô tình. Chủ đề tiếc ngọc thương hoa được nói rất hay trong thơ, nhất là thơ cổ phương Đông. Hoa tượng trưng cho cái đẹp cho sắc tài giai nhân. Hoa hồng thuộc loại danh hoa nên khi nở lại càng đẹp. Hoa nở, hương sắc phô bày, cuộc sống đậm đà có sắc màu ý vị. Và khi hoa tan, vẻ đẹp của đất trời mất đi một phần, ai mà chẳng thương, chẳng tiếc, Đỗ Phủ trong bài “Khúc Giang-I” đã viết:
“Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân,
Phong phiên vạn điểm chính sầu nhân”…
(Hoa bày một cánh kém xuân rồi,
Gió tạt muôn bông thật não người).
(Ngô Tất Tố dịch)
Vậy ai đã vô tình với hoa? Nếu là tạo hóa vô tình bởi lẽ hoa nở tàn cũng như chuyện sinh, tử của người đều có qui luật tất yếu của tự nhiên, của sự sống. Hay người đời đã vô tình với hoa nở, hoa tàn? Cuộc mưu sinh của nhân gian đầy bận bịu, nhiều trăn trở khó khăn, ít thảnh thơi, nên có lúc, ta đã vô tình trước cái đẹp, trước chuyện hoa nở, hoa tàn. Hay là nhà thơ – nhân vật trữ tình đã vô tình với hoa? Câu thơ thoáng một nỗi niềm áy náy, một nét bâng khuâng. Đã từng trải qua những tháng ngày “ác mộng”, bị cùm trói, bị giải tới giải lui, nếm đủ trăm cay nghìn đắng, có lúc nhà thơ day dứt: “Ướm hỏi: tự do đâu có được?”; có thể vì cảnh ngộ éo le mà “vô tình” như vậy:
“Chỉ bởi trước lao còn bóng tối
Mặt trời chưa rọi thấu vào trong”. (Cảnh buổi sớm - số 112)
Cái song sắt lạnh lùng, cái nhà tù oan trái đã làm cho nhà thơ vốn yêu hoa, mà đã “vô tình” với hoa.
Trong thơ ca cổ, hoa tàn tượng trưng cho giai nhân mệnh bạc. Một đời hoa sớm nở tối tàn để lại bao nỗi đau cho đời. Vì Thừa Khanh đời Đường đã viết: “Lạc hoa tương dữ hận – Đáo địa nhất vô thanh”, nghĩa là, hao rung cùng chia hận - tới đất không tiếng kêu. Nguyễn Trãi trong “Quốc âm thi tập”, bài thơ “Tiếc cảnh” cũng có câu: “Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tinh?”. Trong cuộc đời cũng vậy những Tây Thi, Dương Quý Phi, Chiêu Quân,... đã hàng ngàn năm trôi qua vẫn còn chia hận”, để thương, để tiếc trong lòng người. Mấy ai đã vô tình với hoa?
Có thể nói, tứ thơ hoa nở, hoa tàn chẳng nên, chẳng nỡ vô tình với hoa, là một tứ thưo đẹp, mang tính truyền thống, giàu giá tị nhân bản. Cái mới của thơ Hồ Chí Minh là ở hai câu 3, 4 này:
“Hương hoa bay thấu vào trong ngục,
Kể với tù nhân nỗi bất bình”.
Hai chữ “Kể với” “làm giảm ý thơ, không mạnh mẽ bằng “tố bất bình”? Tố có nghĩa là nói to lên, có mang theo sự giận hờn. Hoa tàn rổi, nhưng linh hồn hoa, hương hoa không thể bị huỷ diệt. Hương hoa được nhân hoá, bay đi khắp nhân gian, và bay vào tận ngục tối. Hương hoa đã gặp, đã hướng tới tù nhân mà tố bất bình. Hoa đx tìm được tri âm trong ngục tối. Nhà thơ Hồ Chí Minh là người rất yêu cỏ hoa, giàu tình yêu thiên nhiên, khao khát chan hoà với tạo vật nên hương hoa đã tìm đến. Hương hoa đến với thi nhân để san sẻ, để làm vợi đi nỗi đau của một kiếp hoa tàn. Hoa đến với thi sĩ trong ngục tối để nói lên nỗi bất bình, để chia sẻ, cảm thông với tù nhân là hoa đã chí tình với con người. Hương hoa dã tương thức, đã đồng cảm với con người. Đó là một tứ thơ mới lạ nói về cảm hứng tự do.
Hoa đẹp nhưng sớm nở tối tàn. Đó là một nghịch lý! “Hảo hoa vô bách nhật – Nhân thọ vô bách tuế” (Hoa đẹp chẳng được trăm ngày - Người thọ không đến trăm tuổi – Thơ chữ Hán Nguyễn Du) – Cũng vậy, tù nhân là một thi sĩ rất đỗi yêu hoa, một chiến sĩ cách mạng khao khát tự do, suốt đời chiến đấu cho hạnh phúc con người, vì “Tự dôch mỗi đời nô lệ” (Tố Hữu) mà lại bị tước mất tự do, bị cái nhà tù dã man ngăn cách phải “vô tình” với hoa. Đó cũng là một nghịch lý. Tứ thơ “Hoa hương thấu nhập lung môn lý - Hưởng tại lung nhân tố bất bình” là một tứ thơ độc đáo thể hiện sự kết hợp tài tình lòng yêu thiên nhiên với khát vọng tự do. Tiếng nói của hương hoa trong “Văn cảnh” mãi mãi là tiếng nói tự do.
Tự do là một chủ đề lớn trong “Ngục trung nhật ký”; hơn 10 lần Hồ Chí Minh nhắc đến hai chữ tự do”
- “Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,
Cay đắng chi bằng mất tự do”.
(Cảnh binh khiêng lợn cùng đi)
- “Tự do tiên khách trên trời,
Biết chăng trong ngục có người khách tiên”.
(Quá trưa)
- “Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do”.
(Mở đầu tập nhật ký)
“Văn cảnh” là một bài thơ bình dị nhưng mang ý nghĩa nhân văn mới mẻ. Cảm hứng thiên nhiên hoà hợp với cảm hứng tự do. Hương hoa là một hình tượng đẹp, biểu cảm, một tứ thơ mới mẻ, độc đáo. “Vãn cảnh” là một tiếng nói tri âm, một thông điệp có mùi thơm: Tự do là cái đẹp; con người phải được sống trong tự do để trân trọng và yêu quí cái đẹp của tạo vât thiên nhiên và để nâng niu cái đẹp của con người.