 |
|
 |
|
Đề bài |
Bài giải |
ý kiến bạn đọc
 | Đề bài |
 | |
A- Gợi ý chung
Chúng ta đều biết: Vi hành là một truyện ngắn tiêu biểu cho bút pháp văn xuôi hiện đại, tài châm biếm đặc sắc- nét đặc trưng của những truyện ký mà Nguyễn Ái Quốc sáng tác đầu những năm 20 ở Pháp. Tác phẩm có nhiều tầng nội dung, ý nghĩa, nhiều giá trị. Đề văn không yêu cầu khai thác nội dung ý nghĩa mà hướng về “nghệ thuật châm biếm đả kích đặc sắc”. Đó là nội dung cơ bản mà bài làm cần tập trung giải quyết. Về phương pháp, người viết cần sử dụng thao tác “Phân tích và bình giảng…” Như vậy, bài làm có thể theo hướng sau:
1. Phân tích bình giảng một vài thủ pháp nghệ thuật châm biếm, đả kích đặc sắc trong tác phẩm bằng những dẫn chứng và lý lẽ cụ thể tiêu biểu.
2. Sau khi phân tích những nét nổi bật trong nghệ thuật châm biếm nêu khái quất đánh giá nêu tác dụng- nhấn mạnh tính chiến đấu, mục đích cách mạng của tác phẩm…
Ngoài ra, có thể liên hệ, so sánh với nghệ thuật dựng hình ảnh trong kịch Con rồng tre; giọng kể, ngôn ngữ trong chuyện Lời than vãn của bà Trưng Trắc và nêu cảm nghĩ riêng của mình về phong cách nghệ thuật, tài văn chương và quan điểm sáng tác của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh.
B- Gợi ý cụ thể
I. Đặt vấn đề
- Nếu thời gian và mục đích sáng táctác phẩm: năm 1922, vua bù nhìn Khải Định sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa. Nhân sự kiện này, Nguyễn ái Quốc đã viết một số tác phẩm văn xuôi- bằng tiếng Pháp- đăng trên các báo công khai ở Pari, nhằm châm biếm, đả kích Khải Định. Trong đó tiêu biểu nhất là truyện ngắn Vi Hành.
- Vào vấn đề, nêu luận đề: Vi Hành- như chúng ta đều biết, là áng văn xuôi của Châu Âu hiện đại có những tầng nội dung, ý nghĩa, nhiều giá trị. Giá trị nổi bật nhất của Vi Hành phải chăng đã được biểu hiện rất rõ nét, vô cùng hấp dẫn, thú vị ở nghệ thuật châm biếm, đả kích đặc sắc.
II. Giải quyết vấn đề
Những đặc sắc của nghệ thuật châm biếm, đả kích của truyện ngắn Vi Hành:
1. Phân tích và bình giảng ba thủ pháp nghệ thuật
a) Thủ pháp nghệ thuật thứ nhất: Tạo tình huống bất ngờ, thú vị. Sự nhầm lẫn người dân thường thành đức vua, hoàng đế vi hành. Cũng là nghệ thuật miêu tả gián tiếp, khách quan, có tác dụng châm biếm hóm hỉnh, đả kích sâu sắc:
- Sự nhầm lẫn tăng tiến trong không gian và số lượng:
+Phần đầu: Đôi thanh niên Pháp trên toa xe điện ngầm nhầm “tôi”- tác giả với hoàng đếvà họ cũng tưởng nhầm người ngồi cạnh họ, nghe họ nói không hiểu tiếng Pháp. Sự nhầm lẫn song trùng đáng nực cười ấy khiến ngôn ngữ nhân vật càng tự nhiên, phóng túng…Ngoại hình hoàng đế- “anh vua”- cứ hiện rõ dần, rõ dần: “mũi tẹt, mắt xếch, cái mặt bủng như vỏ chanh…khoác trên người đủ cả bộ lụa là, đủ cả bộ hạt cườm…Các ngón tay đeo đầy nhẫn, có cả cái chụp đèn chụp lên cái đầu quấn khăn…”. Cử chỉ của hoàng đế cũng được nhắc lại: “Trông hắn có vẻ nhút nhát, lúng ta lúng túng…”Và giá trị của “ngài” thì rẻ tiền hơn những trò tiêu khiển của người Pari- “Nghe nói ông bầu nhà hát múa rối định ký giao kèo”. Nghĩa là vị hoàng đế của xứ An Nam ấy- dưới con mắt đôi bạn trẻ người Pháp chẳng khác gì một con rối để họ được mua vui, thoả chí tò mò.
+Phần sau: Ra đường phố- không gian mở rộng- dưới cái nhìn nhầm lấn của người dân, của nhân viên nhà nước, cảu chính phủ- số lượng người nhầm lẫn tăng nhiều “Đến nay… tất cả những ai có màu da vàng đều trở thành hoàng đế…”. Quân chúng thì tự phát biểu nhiệt tình bằng những tiếng nói, cái chỉ tay “hắn đấy, xam hắn kìa”. Các nhân viên chính phủ thì “đối đãi tất cả mọi người An Nam vào hàng vua chúa… bàm lấy đế giày như hình với bóng…” Rõ ràng, “hoàng đế An Nam” đã thành trò vui, thoả chí tò mò của tất cả người Pháp, cả dân thường và nhà chức trách.
+ý nghĩa, tác dụng: trào lộng, châm biếm thật hóm hỉnh.
-Sự nhầm lẫn tăng theo thời gian và chất lượng:
+Lúc đầu đôi thanh niên hình dung dáng vẻ bên ngoài của hoàng đế- khiến hoàng đế trở thành một kẻ lố bịch, hợm của, diêm dúa, nhút nhát, đáng cười.
+Sau, ở tất cả mọi lúc người ta nhìn nhận. Suy nghĩ và đối xử với hoàng đế như một kẻ tầm thường: họ gọi “hắn đấy, xam hắn kìa”; họ rình “như người mẹ rình đứa con thơ chập chững bước đi…”.
- Sơ kết: Nhờ tình huống nhầm lẫn, câu chuyện trở nên trớ trêu, hài hước, khách quan, ngỡ như tác giả không cố tình mà chỉ chép lại sự thật. Tác dụng: vừa phê phán đả kích vua bù nhìn Khải Định- kẻ lố bịch, con rối, đứa trẻ tầm thường dứơi cái nhìn và thái độ đối xử của người Pháp- vừa châm biếm nhẹ nhàng, hóm hình thói tò mò, hiếu kỳ của người dân Pháp; cũng như tác phong quan liêu bất nhã, tuy tiện của nhân viên chính phủ Pháp, và cả chủ trương theo dõi, kiểm soát chặt chẽ những người Việt Nam trên đất Pháp lúc ấy của chính phủ Pháp.
b) Thủ pháp nghệ thuật thứ hai: Tác giả dùng hình thức viết thư.
Không bị gò ép bởi bố cục, quy tắc, mà có chỗ tạt ngang, nói tiếng nói và suy nghĩ của mình. Đặc sắc nhất là khi “tôi”- Nguyễn ái Quốc- gợi nhớ những vị hoàng đế chân chính thực hiện những chuyến vi hànhvĩ đại như vua Thuấn (Trung Quốc), vua Pie (nước Nga)…Đối chiếu rồi đưa ra những lưòi chất vấn nghiêm khắc: “Phải chăng ngài muốn… Phải chăng ngài muốn… hay la ngài lại muốn…”Những câu hỏi không lời đáp vừa như lời luận tội, vừa lột trần chuyến đi mờ ám của Khải Định.
- Vì là thư cho “cô em họ”nên tác giả dùng nhiều giọng văn, không bị trói buộc, rất tự nhiên, nhớ đâu kể đấy… như đùa như bịa mà là thật, rất thật.
Tác dụng: Tạo giá trị hiện thực, đùa vui nhưng nghiêm túc, khiến “cô em” nói riêng và người đọc nói chung được cười thoải mái, không phải cười xoà mà cười ra nước mắt “cười ruồi”, cười giễu, “giễu chết tươI”- như nhận xét của giáo sư Phạm Huy Thông: vừa khinh ghét kẻ lố bịch vừa ngậm ngùi chua xót cho thân phận một dân tộc mất nước, bị sỉ nhục từ hoàng đế xuống mỗi người dân.
c) Thủ pháp nghệ thuật thứ ba: Dùng từ, viết câu đạt hiệu quả châm biếm, đả kích.
- Dùng từ, viết câu tả thực sống động: “Họ ngấu nghiến trông tôi… rình rập con thơ…bám lấy đế giày tôi…” có tác dụng gợi hình, đả kích, châm biếm mạnh.
- Dùng từ, viết câu theo nghĩa ngựơc, theo lối chơi chữ của văn Pháp, hóm hình, đầy tính kịch, đẫn chất chất trí tuệ:
+ “Quần chúng cứ tự phát mà biểu lộ nhiệt tình…đón tiếp tôt đẹp…” Ngỡ như họ “chào mừng”, “kính trọng”- song kính trọng bằng cách chỉ trỏ và xưng hô “hắng đấy, xem hắng kìa”.
+Câu văn cuối “Tôi không sao che giấu nổi sự tự hào đựoc là một người An Nam và sự kiêu hãnh có một vị hoàng đế…” Niềm tự hào hay xấu hổ? Sự kiêu hãnh có một vị hoàng đế hay điều quốc xỉ đến ê chề, đau xót?
2. Khái quát, bình luận
a) Những thủ pháp nghệ thuật trong Vi hành: sự kết hợp hài hoà giữa phong cách văn xuôi Châu Âu hiện đại (những nhầm lẫn kiểu hội hoá trang Carnavan, từ ngữ vui đùa kiểu “Đôn Kihotê”…) với lối đùa vui hóm hỉnh mà thâm trầm á Đông (tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến…) Đó cũng là nét phong cách trong một số tác phẩm cùng chủ đề: Con rồng tre, Lời than vãn của bà Trưng Trắc…
b) Tác dụng của thủ pháp: Qua các câu chữ (dù qua bản dịch), qua các chi tiết… ta thấy rõ ý nghĩa châm biếm, đả kích sâu sắc mà nhẹ nhàng, nghiêm tuac nhưng hóm hỉnh, giàu trí tuệ mà thấm thía tình cảm. Đây la thứ trí tuệ, tình cảm của một tâm hồn yêu nước, thấm nỗi đau dân tộc bị nô lệ.
III. Kết thúc vấn đề
- Cho ta thấy sống lại một thời kỳ lịch sử khi nhân dân bị nô lệ, vua chúa là bù nhìn của thực dân Pháp.
- Vi Hành là minh chứng cho tài hoa cũng như quan điểm sáng tạo vì mục đíach chính trị của Nghuyễn ái Quốc. Ta thấy càng thêm kình trọng Hồ Chí Minh.
* Có thể tham khảo cách viết thứ 2:
A- Gợi ý chung:
Bài văn phải nêu được sáng tạo nghệ thuật độc đáo và bút pháp mỉa mai, châm biếm bậc thầy của tác giả.
Vi hành được viết vào năm 1923, sau sự kiện Khải Định sang Pháp một năm, sau các tác phẩm như Lời than vãn của bà Trưng Trắc và Con rồng tre, cùng viết về một chủ đề. Điều này đòi hỏi tác giả Nguyễn ái Quốc phải vượt lên chính mình, không lặp lại một cách nhàm chán, từ đó mà tạo thành một sáng tạo độc đáo.
Nói tới bút pháp là nói tới cách viết, các biện pháp nghệ thuật, ở đây là biện pháp mỉa mai, châm biếm.
B- Dàn bài sơ lược
A) Mở bài
- Vị trí của nghệ thuật trào phúng trong sáng tác văn học của Nguyễn ái Quốc.
- Vi hành- Một sáng tạo mới trong nghệ thuật trào phúng của Nguyễn ái Quốc.
B) Thân bài
Tình huống truyện mở ra hai hướng:
+ Chế giễu Khải Định mà vắng mặt Khải Định;
+ Một chuyện nhận lầm để hoá không thành có.
- Đàm tiếu của kẻ nhận lầm:
+ Đôi nam nữ người Pháp cà sự nhận lầm ngộ nghĩnh;
+ Khải Định trở thành một trò mua vui rẻ tiền;
+ Những so sánh với các cuộc vi hành của các vi nhân nhằm vạch mặt Khải Định.
+ Những nghi vấn giả định nhằm mỉa mai Khải Định với quan thầy;
+ Tiếp tục biện pháp “quá mù ra mưa” để chế giễu sự mẫn cán của mật thám Pháp.
- Kết luận về tình huống truyện độc đáo;
- Bút pháp mỉa mai, châm biếm của tác giả:
+ Những ví von ngộ nghĩnh;
+ Những nghi vấn giả định;
+ Tính chất chính luận sắc bén.
C) Kết bài
Truyện ngắn Vi hành là:
- Một thành tựu xuất sắc của văn học cách mạng.
Bài làm
Ra đời vào năm 1923, truyện ngắn Vi hành được xem là một sáng tác nghệ thuật độc đáo cảu Nguyễn ái Quốc với lối châm biếm mỉa mai sâu sắc và thâm thuý. Bằng cách vận dụng cách nói hóm hỉnh của người Pháp và cách nói thâm trầm cảu người Việt, tác giả đã dựng nên hình ảnh tên vua bù nhìn Khải Định ngu dốt, hèn hạ và đốn mạt đến lố bịch.
Nói đến “Vi hành”, ta liên tưởng đến hành động của những bậc minh quân cải trang làm thường dân để đi tìm hiểu sự thật về dân tình. Thế nhưng nội dung của tác phẩm Vi hành dưòng như phảm đề với tựa của nó. Khải Định không phải là một vị minh quân, không phải cải trang để lo cho đời sống nhân dân mà “vi hành” sang Pháp với những cuộc đI lén lút, ám muội nhằm thực hiện những mục đích riêng tư. Nhờ cách đặt tựa đề như thế, nó làm cho tác phẩm tăng thêm phần hóm hỉnh, trí tuệ và đặc biệt, nó có tác dụng rất lớn trong việc đả kích không thương tiếc nhưũng hành vi hén hạ của tên vua Khải. Định khi du hành sang Pháp.
Truyện ngắn đựơc viết với hình thức một bức thư gửi cho cô em họ. Thực ra, hình thức viết thư chẳng có gì mới mẻ, điều độc đáo ở đay là hình thức viết thư này đã được Nguyễn ái Quốc sử dụng một cách linh hoạt, thích hợp nhằm đạt được những hiệu quả nghệ thuật cao nhất.Trước hết, văn viết thư thuộc phong cách hội thoại nên người viết có thể viết tự nhiên, thoải mái. Điều này giúp Nguyễn ái Quốc có thể chuyển đề tài raast linh hoạt từ cảnh ga tàu điện ngầm ở Pari sang cảnh quê nhà; từ chuyện vua Thuấn ở bên Tàu sang chuyện vua Pie ở nước Nga; từ chỗ châm biếm Khải Định đến chỗ đả kích bọn thực dân và mật thám Pháp. Hơn nữa, sử dụng bút pháp viết thư giúp tác giả không cần đi theo logic, có thể đả kích được cùng một lúc nhiều đối tượng bằng nhiều giọng điệu khác nhau. Vì thế, trong một khuôn khổ rất ngắn gọn, truyện ngắn có thể chứa đựng một nội dung rất lớn, đồng thời tạo nên sức hấp dẫn đối với người đọc. Ngoài ra, đọc tác phẩm dưới hình thức một bức thư có thể gây cho người ta ảo tưởng rằng đây là một câu chuyện có thật. Nhưng những yếu tố hài hước và những sự nhầm lẫn kỳ lạ, có tính khuyếch đại lại làm cho người đọc nghĩ rằng đây là một câu chuyện bịa Chính nờ sự lẫn lộn bịa thật này đã gieo vào đầu người đọc những suy nghĩ, thắc mắc, giúp họ có thể hấp thu được nhiều nội dung mà Nguyễn ái Quốc muốn truyền đạt.
Thế nhưng, nói đến những sáng tạo độc đáo của Nguyễn ái Quốc, trước tiên phải kể đến sự thành công của tác giả trong việc tạo những tình huống nhầm lẫn độc đáo, đặc biệt nhân việc vua Khải Định được thực dân Pháp mời sang dự cuộc đấu xảo ở Macxay, Nguyễn ái Quốc đã dựa vào một sự việc có thật hư cấu thêm, tạo cho truyện Vi hành một sức hấp dẫn lạ kỳ. Đó là sự nhầm lẫn tác giả với Khải Định đi “vi hành”. Việc tạo tình huống mày làm tác phẩm mang tính châm biêm sâu sắc đồng thời, tạo sức thuyết phục cao đối với người đọc. Hơn nữa, giá trị tố cáo của truyện vì thế mà mang tính khách quan hơn vì những lời thoá mạ Khải Định là do sự ghi lại những nhận xét, đánh giá của dân chúng Pháp đối với vị vua bù nhìn này mà nhân vật tôI hoàn toàn “vô can”, không cố ý lố bịch hoá “quốc vương” của mình.
Trước hết là sự nhầm lẫn của đôi tình nhân Pháp tường tác giả là quốc vương An Nam. Nghĩ rằng quốc vương không biết tiếng Pháp, họ đã thoải mái bình phẩm về Khải Định. Cái hay của Nguyễn ái Quốc là không hề mô tả trực tiếp nhân vật nhưng qua những cuộc nói chuyện chắp nối rời rạc, chân dung Khải Định lại hiện lên thật sinh động, rõ nét. Đó là một Khải Định với “cái mũi tẹt”, “đôi mắt xếch”, “cái mặt bủng như vỏ chanh”; thái độ thì “nhút nhát”, “lúng ta lúng túng”; cách ăn mặc thì khôi hài lạ lẫm “có cả cái chụp đèn chụp lên cái đầu quấn khăn, các ngón tay thì đeo đầy những nhẫn, đeo lên người cả bộ lụa là, cả bộ hạt cườm”. Quả thật, trong con mắt của đôi tình nhân ấy, vua Khải Định chỉ là trò lạ mắt, thứ đồ chơi: “Họ ngấu nghiến trông tôi với cặp mắt ma mãnh, tò mò nhưng lại ra bộ không nhìn tôi gì cả.” Và tệ hại hơn nữa, từ chỗ được xem như một thứ đồ cổ, Khải Định- Quốc vương An Nam- giờ đây lại được xem như một kẻ làm trò hề giải trí cho người Pháp giữa lúc mà kho giải trí ở đây “sắp cạn ráo như cái nhà băng Đông Dương”. Hắn được đạt ngang hàng với Saclo, vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên hay tụi làm trò leo trèo nhào lộn của sư thành xứ Cônggô. Đặt Khải Định trước con mắt của những người thanh niên Pari đang háo hức xem trò giải trí mới lạ khiến cho bộ dạng tên vua bù nhìn đã lố bịch lại càng trở nên hài hước lố bịch hơn. Đặc biệt, chi tiết Khải Định mang đồ đạc nữ trang của mình đi cầm ở hiệu cầm đồ càng làm tăng thêm nét sắc sảo trong nghệ thuật châm biếm của tác giả. Vả lại, ta thấy rất hợp logic và hoàn toàn không có gì quá đáng khi những lời nhận xét này phát ra từ miệng những người thanh niên Pháp, đang sống trong chế độ dân chủ, những người mà đối với họ, vua chúa chỉ là đồ cổ, không có giá trị. Lời bình ấy nếu đặt vào miệng người Việt Nam, sẽ trở thành lời thoá mạ hằn học, thiếu tự nhiên.
Trong không gian rộng- Thủ đô Pari, nhân vật tôi lại trở thành đối tượng nhầm lẫn của nhân dân Pháp. Thái độ của họ đối với Khải Định là một sự khinh bỉ qua cách gọi “hắn đấy” hay “xem hắn kìa”.
Điều lạ lùng ở dây là ngay cả đến chính phủ Pháp đích danh mời Khải Định sang làm thượng khách cũng không nhận ra đâu là Khải Định nên để tránh thất thố trong ngoại giao “đành đối đãi với tất cả những người An Nam vào hàng vua chúa”. Vì thế họ bèn phải mật thám “những người phục vụ thầm kín, rụt rè, vô tư, tận tụy- ân cần theo dõi” tác giả như “bà mẹ hiền rình đứa con thơ chập chững bước đi thứ nhất”. Dưới mắt của chính quyền thực dân, Khải Định chỉ là một đứa trẻ cần được nâng đỡ và vì thế hoàn toàn không xứng đáng để được họ đối đãi như một quốc vương An Nam thực sự. Hắn chỉ là một kẻ bù nhìn, là công cụ trong tay Pháp để giúp sức bọn thực dân bóc lột, đầy đợc nhân dân ta. Đáng chú ý là thông qua lối viết biến hoá kỳ thú này, tác giả không chỉ đả kích một tên vua bù nhìn Khải Định mà còn có thể xé toang bộ mặt thật của chế độ thực dân rêu rao là bình đẳng, bác ái, bảo vệ nhân quyền nhưng thực chất lại là những kẻ xâm phạm nhân quyền. Ta có thể thấy những điều này qua cách chúng đối đãi với những người Việt Nam yêu nước ở Pháp: “Có thể nói là các vị bàm lấy đế giày tôi, dính chặt với tôi như hình với bóng. Và thực sự là các vị cuống cuồng cả lên nếu mất hút tôi chỉ trong dăm ba phút”.
Có thể nói Vi hành bao gồm những thủ pháp nghệ thuật độc đáo với sự vận dụng cách nói ý nhị của người Pháp và cách nói hóm hỉnh, thâm trầm của người á Đông nhằm đưa người đọc vào cách hiểu logic ngược: “Những tiếng “hắn đấy” hay “xem hắn kìa” là những lời chào mừng kín đáo và kính trọng mà chúng tôi thường gặp dọc đường”. “Các vị chẳng nề hà chút công sức nào để bảo vệ chúng tôi”… “Cô thử nghĩ làm sao mà không xúc động sâu xa được, khi được đối đãi như thế?” Lối tư duy ngược ở câu cuối cùng của tác giả lại càng độc đáo: “Ngày nay, cứ mỗi lần ra khỏi cửa, thật tôi không sao che giấu nổi niềm tự hào được là một người An Nam và sự kiêu hãnh có một vị hoàng đế”. “Cái nỗi niềm tự hào” mà tác giả đề cập đến ấy phải chăng là một nỗi nhục của người daan nước Việt lầm than, nô lệ nhìn thấy cảnh đức vua nước mình đựơc nhân dân và chính phủ Pháp “nâng niu, chăm sóc”? Từ chuyện Khải Định, Nguyễn ái Quốc lại chuyển sang tố cáo chế độ thực dân khai hoá bằng lối liên hệ tạt ngang đầy sáng tạo “Đến nay tất cả những ai ở Đông Dương có màu da trắng đếu là những bậc khai hoá thì bây giờ đến lượt tất cả nhưũng ai có màu da vàng đều trở thành hoàng đế ở Pháp.” Ngôn ngữ của truyện thay đổi khi trìu mến đầy tình cảm, khi hài hước châm biếm, khi lại thóa mạ một cách cay độc, đả kích không thương tiếc nhưũng hành vi hèn mạt của tên vua bù nhìn bán nước. Khải Định thông qua những lời bình luận của đôi thanh niên Pháp, trở thành mọt thằng hề trên sân khấu với giá rẻ mạt: “Em thì em thích Saclô hơn. Với lại vua thì tốn lắm”, “hôm nay chúng mình có mất tý tiền nào đâu mà được xem vua đang ngay cạnh. Nghe nói ông bầu nhà hát múa rối có ý định kí giao kèo thuê đấy”. Và quả thật, Khải Định là một con rối, không hơn không kém của chính ohủ thực dân thuộc địa. Nhưng hắn lại đi “vi hành” sang cả Pháp, “Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp, dứoi quyền ngự trị của bạn ngài là A-lếch-xăng đệ nhất, có được sung sướng, có được uống nhiều rược và hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam, dưới quyền ngựu trị của ngài hay không?...”. Thật là một lối châm biếm độc đáo, tài tình!
Không có gì quá đáng khi kết luận rằng “Vi hành” là một thiên truyện ngắn có sức mạnh châm biếm, đả kích rất lớn với nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo, biến háo linh hoạt và đầy sáng tạo, là một tác phẩm nghệ thuật kết tinh xuất sắc mà qua đó thể hiện đầy đủ đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn ái Quốc, Truyện ngắn Vi hành là một mũi tên bắn c\trúng hai kẻ thù: Tên bán nước và bọn cướp nước, một tên vua bù nhìn nhân cách thối nát và một chế độ “thực dân khai hoá” đầy nham hiểm, tàn bạo.
 | Ý kiến bạn đọc |
p9_7k11 gửi lúc: 23:11:06 Ngày 01-07-2008 Hix. mình thíx bài này. Hay nà ^^ | bimbip gửi lúc: 21:48:22 Ngày 07-06-2008 công nhận bài này rất được. | Addddd gửi lúc: 18:35:56 Ngày 24-05-2008 tuyệt vời | thangthap gửi lúc: 22:26:58 Ngày 01-12-2007 em muốn nội dung cần chi tiết và rõ ràng hơn | letrang_th gửi lúc: 21:56:02 Ngày 20-10-2007 em muon binh giang that sau ve bai nay co duoc kh ah | doll_loveless gửi lúc: 20:29:07 Ngày 18-10-2007 hic
cứu em với
giúp em phân tích tính trí tuệ và tính hiện đại trong "vi hành" nèo
đề khó wa' a` !!! | camnangmuathu gửi lúc: 19:41:20 Ngày 10-10-2007 em xin chân thành cảm ơn các anh chị đã giúp đõ cho em | camnangmuathu gửi lúc: 11:29:21 Ngày 09-10-2007 em gửi hiều như vậy là vì em rất muốn có bài này khẩn cấp, nhưng khó quá ạ | camnangmuathu gửi lúc: 11:27:53 Ngày 09-10-2007 em muốn có một bài phân tích về nghệ thuật châm biếm của bài "Vi Hành".
Phân tích thật sâu , anh hay chị giúp em với | camnangmuathu gửi lúc: 11:27:53 Ngày 09-10-2007 em muốn có một bài phân tích về nghệ thuật châm biếm của bài "Vi Hành".
Phân tích thật sâu , anh hay chị giúp em với | camnangmuathu gửi lúc: 11:27:52 Ngày 09-10-2007 em muốn có một bài phân tích về nghệ thuật châm biếm của bài "Vi Hành".
Phân tích thật sâu , anh hay chị giúp em với | camnangmuathu gửi lúc: 11:27:49 Ngày 09-10-2007 em muốn có một bài phân tích về nghệ thuật châm biếm của bài "Vi Hành".
Phân tích thật sâu , anh hay chị giúp em với |
|
|
 |
|
 |
|
|